TÒA ÁN CÓ QUYỀN TUYÊN VÔ HIỆU HỢP ĐỒNG/GIAO DỊCH KHI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC THI HÀNH/THỰC HIỆN GIAO DỊCH/HỢP ĐỒNG ĐÓ
Khi Nguyên đơn khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu Tòa buộc Bị đơn phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ/trách nhiệm pháp lý nào phát sinh/xuất phát từ giao dịch/hợp đồng mà Họ đã giao kết với nhau (Không bao gồm các nghĩa vụ/trách nhiệm do giao dịch/hợp đồng vô hiệu) – Cần phải hiểu rằng, Nguyên đơn đang dựa trên một giả định là giao dịch/hợp đồng mà Họ đã xác lập đó, có hiệu lực pháp luật, được pháp luật công nhận và có giá trị cưỡng chế thi hành.
Chính vì vậy, trong trường hợp, Tòa án chấp nhận bất kỳ yêu cầu nào của Nguyên đơn, đồng nghĩa rằng, Tòa án thừa nhận giả định vừa nêu của Nguyên đơn là đúng, tức công nhận giao dịch/hợp đồng mà Nguyên đơn/Bị đơn đã xác lập đó, có hiệu lực pháp luật, được pháp luật bảo vệ và có giá trị cưỡng chế thi hành.
Tuy nhiên, Tòa án không thể nào cho phép cưỡng chế thi hành một giao dịch vô hiệu – Nghĩa rằng, trước khi buộc Bị đơn phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ/trách nhiệm pháp lý nào phát sinh/xuất phát từ giao dịch/hợp đồng mà Họ đã giao kết với nhau – Tòa án buộc phải xác định, giao dịch/hợp đồng đó có hiệu lực thi hành hay không: (i) Nếu giao dịch/hợp đồng có hiệu lực pháp lý, thì mới xác định tiếp nghĩa vụ bị vi phạm là gì, chế tài pháp lý ra sao, sau đó sẽ dựa trên yêu cầu của Nguyên đơn để giải quyết, ví dụ như buộc tiếp tục thực hiện giao dịch/hợp đồng, buộc bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ; (ii) Nếu giao dịch vô hiệu, thì giải tán (Nôm na ví von vậy).
Như vậy, Tòa án buộc phải xem xét đến hiệu lực pháp lý của hợp đồng/giao dịch khi có yêu cầu thực hiện bất kỳ nghĩa vụ/trách nhiệm pháp lý nào phát sinh/xuất phát từ hợp đồng/giao dịch này – Thông qua đó, có quyền tuyên bố hợp đồng/giao dịch là vô hiệu khi có căn cứ pháp lý – Mà không nhất thiết, phải có bất kỳ bên nào trực tiếp đưa ra yêu cầu Tòa tuyên bố hợp đồng/giao dịch này là vô hiệu.
Nói gọn lại - Khi có bất kỳ tranh chấp nào, mà tranh chấp đó có liên quan đến tính hiệu lực của hợp đồng/giao dịch (Ví dụ yêu cầu buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ, phạt vi phạm nghĩa vụ) – Thì Tòa án buộc phải xem xét giá trị hiệu lực của giao dịch/hợp đồng trước, và thông qua đó, có quyền tuyên bố giao dịch/hợp đồng là vô hiệu khi có căn cứ, để làm cơ sở không chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Lập luận phản chứng – Nếu cho rằng, Tòa án chỉ tuyên bố hợp đồng, giao dịch vô hiệu khi có Đương sự yêu cầu rõ ràng như thế, đồng nghĩa rằng, nếu không có ai yêu cầu, thì Tòa án luôn buộc phải xem mọi giao dịch/hợp đồng đang có tranh chấp đó là có hiệu lực thi hành, bất kể hợp đồng/giao dịch này trái pháp luật tới đâu?!! Tất nhiên – Không thể nào, có thể chấp nhận một lý luận ngớ ngẩn như vậy.
Ví dụ 1: A ký hợp đồng cho B vay tiền, lãi suất là 60%/năm (Tức 5%/tháng), do B không trả được nợ, nên A kiện B ra Tòa, yêu cầu Tòa buộc B phải trả nợ gốc và lãi theo Hợp đồng. B không đưa ra phản tố, chỉ xin cho trả chậm hơn. Không ai yêu cầu Tòa tuyên vô hiệu một phần hay toàn bộ giao dịch. Tuy nhiên, khi xét xử, Tòa buộc phải tuyên giao dịch vô hiệu một phần, cụ thể là phần lãi suất vượt quá 20%/năm. Lý do, Luật chỉ cho phép tối đa lãi suất là như vậy, các bên chỉ có thể thỏa thuận bằng/thấp hơn, chứ không thể thỏa thuận cao hơn.
Ví dụ 2: C cho D vay 200 triệu đồng, lãi suất là 20%/năm (Đúng luật), mục đích vay là để D mua một quả thận của Người khác (Trái luật). D không trả được nợ, nên C kiện D ra Tòa buộc phải trả nợ gốc và lãi. Không ai đề nghị hay yêu cầu Tòa tuyên bố giao dịch/hợp đồng vô hiệu. Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của B, đồng nghĩa công nhận mục đích vay nhằm mua thận là hợp pháp. Tất nhiên, Tòa không thể giải quyết như vậy, và buộc phải tuyên giao dịch vô hiệu, D chỉ phải hoàn trả lại cho C tiền gốc, mà không phải trả lãi, vì giao dịch vô hiệu.
Những nội dung vừa nêu trên là những nguyên tắc pháp lý căn bản. Sở dĩ, Người ta hiểu sai về mặt tố tụng (Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu), là vì Họ đã không nắm được lý luận nền tảng vấn đề về nội dung, rằng muốn buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng/áp dụng chế tài khác do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, thì hợp đồng phải có hiệu lực đã, rồi mới tính tiếp được (Việc xét tính hiệu lực của hợp đồng, bao gồm có vô hiệu hay không nằm trong phạm vi yêu cầu buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng/áp dụng chế tài khác do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng - Không thể áp dụng chế tài buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng/chế tài khác do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đối với một giao dịch vô hiệu). Và khi có được những lý luận nền tảng vững chắc, Chúng ta không cần phải viện dẫn Công văn nọ kia, vốn hạn hẹp và không liên quan gì cho lắm. Việc chỉ đọc, nhớ, hiểu rời rạc các quy định pháp lý, như từng mảnh ghép riêng, chỉ có thể giải quyết được vấn đề giản đơn, thậm chí là gây ra những nhầm lẫn nghiêm trọng.
Viết tại Sài Gòn – Luật sư: Đặng Bá Kỹ!