PHÂN BIỆT HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TUYỆT ĐỐI VÀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TƯƠNG ĐỐI: MỐI QUAN HỆ VỚI THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI TÒA ÁN
Dưới góc độ ngôn từ/thuật ngữ, Bộ luật dân sự năm 2015, không phân loại Giao dịch dân sự vô hiệu (Bao gồm cả hợp đồng vô hiệu) thành vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối; Mà chỉ phân loại vô hiệu thành vô hiệu từng phần, và vô hiệu toàn phần/toàn bộ. Mặc dù vậy, trong khoa học pháp lý có phân loại Hợp đồng vô hiệu thành vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối. Việc phân loại này, không chỉ có ý nghĩa học thuật, mà rất quan trọng trong thực tiễn tố tụng.
Giữa hai loại vô hiệu này có những điểm giống và khác nhau nhất định. Hợp đồng (Khi đã bị tuyên) vô hiệu dù vô hiệu tuyệt đối hay vô hiệu tương đối, đều giống nhau ở hệ quả pháp lý của giao dịch - Đó là Hợp đồng đã giao kết đều bị vô hiệu, không làm phát sinh/thay đổi/chấm dứt quyền/nghĩa vụ dân sự của Các Bên kể từ thời điểm Hợp đồng được xác lập, Các Bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận/trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả, Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường - Hiểu nôm na, Hợp đồng mà Các Bên đã giao kết không có hiệu lực/giá trị thi hành.
Tuy nhiên, giữa hai loại vô hiệu này, có nhiều điểm khác biệt căn bản. Đầu tiên, là sự khác nhau về nguyên nhân, lý do dẫn đến Hợp đồng bị tuyên vô hiệu - Theo đó: (i) Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối là giao dịch có nội dung/mục đích vi phạm điều cấm của luật/trái đạo đức xã hội, hoặc giả tạo, thường được xem là có ảnh hưởng đến trật tự công: Ví dụ như đất đai không đủ điều kiện để chuyển nhượng mà vẫn chuyển nhượng; Còn (ii) Hợp đồng vô hiệu tương đối là giao dịch vi phạm một, một số điều kiện có hiệu lực của giao dịch, thường chỉ gây ảnh hưởng đến các bên có liên quan đến giao dịch: Ví dụ như việc mua bán có nhầm lẫn về hàng hóa, mà Chúng ta vừa phân tích ở ngay Bài viết trước.
Chính từ điểm khác nhau đầu tiên mang tính bản chất như vừa nêu, kéo theo hai vấn đề khác nhau liên quan đến Chủ thể khởi kiện và Thời hiệu khởi kiện, để yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu: (i) Về Chủ thể có quyền khởi kiện: Bất kỳ ai cũng có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, đối với loại vô hiệu tuyệt đối, trong khi chỉ những Người có liên quan mới được khởi kiện để yêu cầu Tòa tuyên vô hiếu đối với loại vô hiệu tương đối; (ii) Về thời hiệu khởi kiện: Không có hạn chế về thời gian đối với loại vô hiệu tuyệt đối, trong khi thời hạn này chỉ là vài ba năm đối với vô hiệu tương đối, nghĩa rằng hết thời hiệu khởi kiện, loại vô hiệu tương đối sẽ được công nhận hiệu lực. Lý giải khá lằng nhằng, nhưng có thể nôm na đại khái rằng, vì vô hiệu tuyệt đối ảnh hưởng đến trật tự công, lợi ích chung, nên Người nào cũng có quyền khởi kiện và không bị khống chế về thời gian; Còn vô hiệu tương đối, chỉ ảnh hưởng đến một số ít các bên liên quan, không gây ảnh hưởng chung đến trật tự công, nên chỉ có họ mới có quyền khởi kiện và cũng bị khống chế về thời gian.
Nói chung không có vấn đề gì quá khó hiểu hay phức tạp ở những nội dung vừa trình bày. Tuy nhiên, liên quan đến đề tài mà Chúng ta đang thảo luận, có một khía cạnh còn nhiều quan điểm khác nhau trong giới nghiên cứu, liên quan đến phạm vi tố tụng tại Tòa án. Đó là – Một Hợp đồng bị xem là vô hiệu tuyệt đối, có cần phải thông qua thủ tục tố tụng để Tòa án (Đôi khi là Trọng tài) tuyên bố là vô hiệu mới được xem là vô hiệu không; Hay nó mặc nhiên bị xem là vô hiệu, mà không cần có tuyên bố của Tòa án? Đây là một vấn đề khá thú vị và tồn tại những quan điểm không giống nhau. Xin viện dẫn một vài ý kiến cụ thể:
Quan điểm của Trường Đại học luật Tp.HCM (Thể hiện tại Giáo trình “Những quy định chung về Luật dân sự” xuất bản năm 2023, tại Đoạn cuối Trang 327 và tiếp theo): “Đối với giao dịch dân sự vô hiệu, tùy theo tính chất, mức độ của sự vi phạm mà giao dịch có thể bị xem là đương nhiên vô hiệu (vô hiệu tuyệt đối) hay chỉ bị tuyên vô hiệu khi có phán quyết của tòa (Vô hiệu tương đối)” (Hết trích). Điều này, khiến Người đọc hiểu rằng, quan điểm của Người viết giáo trình, có lẽ là đối với giao dịch vô hiệu tuyệt đối, thì mặc nhiên mọi người có quyền xem nó là vô hiệu, mà không cần có sự tuyên bố của Tòa án?!
Quan điểm của Trường Đại học luật Hà Nội (Thể hiện tại Giáo trình “Luật dân sự Việt Nam tập 1” xuất bản năm 2022, tại Đoạn đầu Trang 230) đã khẳng định một cách đầy chắc chắn và quyết đoán: “Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối mặc nhiên vô hiệu mà không cần thông qua các thủ tục tố tụng tuyên bố vô hiệu của Tòa án”; Nhưng rồi vẫn không quên viết thêm: “Tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu của Tòa án chỉ mang tính chất thông báo, xác nhận về việc giao dịch dân sự vô hiệu và việc tuyên bố này của Tòa án không cần có yêu cầu của các bên đương sự” (Hết trích).
Quan điểm của Khoa Luật/Trường Đại học Mở Tp.HCM (Thể hiện tại Giáo trình “Luật dân sự tập 1” xuất bản năm 2023, tại Trang 176): “Luật không nói rõ, nhưng có thể thừa nhận rằng một khi giao dịch được xác lập mà vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội, thì bất kỳ người nào cũng có quyền yêu cầu tuyên bố vô hiệu. Quyền khởi kiện trong trường hợp này không mất đi do thời hiệu” (Hết trích). Không quá rõ ràng, nhưng với cách trình bày này của Người viết giáo trình khi dùng cụm từ “Có quyền yêu cầu tuyên bố”, khiến Người đọc hiểu rằng, giao dịch không mặc nhiên bị xem là vô hiệu, mà phải thông qua thủ tục tố tụng, yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu.
Cuối cùng - Quan điểm của Trường Đại học Luật/Thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội (Thể hiện tại Giáo trình “Luật dân sự 1 Phần chung”), rất tiếc không đi trực diện/trực tiếp vào vấn đề Chúng ta đang bàn, nhưng với cách sử dụng câu từ tại trang 214: “Thực tế khi xem Điều 132 Bộ luật dân sự 2015, ta có thể nhận thấy vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối được phản ánh trong thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố hành vi pháp lý vô hiệu…” (Hết trích), cũng khiến Người đọc, hiểu rằng, giao dịch không mặc nhiên bị xem là vô hiệu, mà phải thông qua thủ tục tố tụng, yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu.
Những trích dẫn từ các Tài liệu vừa nêu cho thấy rằng, có tồn tại hai quan điểm về giao dịch dân sự (Bao gồm cả hợp đồng) vô hiệu tuyệt đối liên quan đến thủ tục tố tụng: (i) Quan điểm thứ nhất cho rằng “Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối mặc nhiên vô hiệu mà không cần thông qua các thủ tục tố tụng tuyên bố vô hiệu của Tòa án”; Và (ii) Quan điểm thứ hai là cần phải thông qua thủ tục tố tụng. Về vấn đề này, quan điểm thứ hai thuyết phục về mặt lý luận và phù hợp với thực tiễn tố tụng hơn. Bởi những lý do sau đây:
Thứ nhất – Khi nghiên cứu về Chế định giao dịch dân sự và Chế định hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng, được quy định trong Bộ luật dân sự/Luật khác có liên quan, Chúng ta thấy Luật dành cho các Bên giao kết rất nhiều quyền, trong đó có cả quyền đơn phương hủy bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn (Một dạng chế tài hợp đồng); Nhưng tuyệt nhiên, không có một quy định nào của Luật giành cho các Bên giao kết được quyền tuyên bố giao dịch/hợp đồng vô hiệu (Dù là vô hiệu tuyệt đối hay tương đối). Rõ ràng, Nhà lập pháp quan niệm, giao dịch/hợp đồng vô hiệu không phải là một chế tài thông thường, mà là một hệ quả pháp lý đặc biệt, Đương sự chỉ có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu để Tòa án xem xét (Không chắc Tòa án sẽ tuyên bố), mà không được tự mình làm điều đó. Cũng có nghĩa là không thể có chuyện mặc nhiên vô hiệu, vì mặc nhiên thì đã được tự tuyên bố, mà không cần phải yêu cầu Tòa án.
Thứ hai - Tất cả Chúng ta đồng ý với nhau mệnh đề “Giao dịch có nội dung/mục đích vi phạm điều cấm của luật/trái đạo đức xã hội là giao dịch vô hiệu tuyệt đối”; Mệnh đề vừa nêu hoàn toàn giống mệnh đề “Kẻ phạm tội có năng lực trách nhiệm hình sự đương nhiên phải chịu trách nhiệm hình sự”. Rất rõ ràng “Kẻ phạm tội” đương nhiên phải chịu trách nhiệm hình sự; Cũng giống như “Giao dịch có nội dung/mục đích vi phạm điều cấm của luật/trái đạo đức xã hội” thì đương nhiên là “giao dịch vô hiệu tuyệt đối”. Nhưng làm sao để xác định một Người nào đó là Kẻ phạm tội: Tất nhiên là phải trải qua quá trình tố tụng, được chứng minh với đầy đủ chứng cứ; Tương tự như thế, làm sao để xác định một giao dịch “Có nội dung/mục đích vi phạm điều cấm của luật/trái đạo đức xã hội”: Tất nhiên phải trải qua quá trình tố tụng, được chứng minh với đầy đủ chứng cứ. Cũng có nghĩa là không thể có chuyện mặc nhiên vô hiệu.
Thứ ba – Có vẻ như quan điểm “Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối mặc nhiên vô hiệu mà không cần thông qua các thủ tục tố tụng tuyên bố vô hiệu của Tòa án”, đã có chút nhầm lẫn khi đã đồng nhất giả định với kết luận làm một. “Giao dịch có nội dung/mục đích vi phạm điều cấm của luật/trái đạo đức xã hội là giao dịch vô hiệu tuyệt đối” - Như vậy, chỉ khi có kết luận một giao dich “Vi phạm điều cấm của luật/trái đạo đức xã hội” thì mới có quyền khẳng định giao địch đó là “Vô hiệu tuyệt đối”? Vậy ai có quyền kết luận một giao dịch là “Vi phạm điều cấm của luật/trái đạo đức xã hội” – Để từ đó khẳng định giao dịch đó bị vô hiệu? Và khi có tranh chấp, một bên khăng khăng là hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm, nhằm giải thoát khỏi nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, còn một bên khăng khăng là hợp đồng có hiệu lực? Vậy cái mặc nhiên vô hiệu ở đâu ra, khi chưa có phán quyết của cơ quan tài phán – Còn các bên thì đang tranh chấp?!
[Sẽ thật khiên cưỡng, nếu Ai đó cứ chăm chăm vào ví dụ rằng giao dịch mua bán ma túy thì đương nhiên vô hiệu – Vì tình huống đó không đủ để khỏa lấp đi vô vàn những tình huống khác, mà ranh giới giữa vi phạm điều cấm của luật/Trái đạo đức xã hội là không rõ ràng, và đang có tranh chấp giữa các bên. Ví dụ: Ông A đang có vợ, nhưng vẫn vừa có nhân tình là cô B, Ông A tặng cho cô B một căn nhà? Giao dịch của Ông A và Cô B có trái đạo đức xã hội không? Nếu trái đạo đức xã hội thì giao dịch vô hiệu tuyệt đối, nếu không trái đạo đức thì không vô hiệu (Lý thuyết giả định là thế) Vậy trường hợp này là mặc nhiên hay không mặc nhiên? Tất nhiên là không mặc nhiên mà phải có phán quyết của Tòa án].
Thứ tư – Về mặt quy phạm, Điều 132.3 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Đối với giao dịch dân sự quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này (Giao dịch/Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, giả tạo - Tức loại giao dịch vô hiệu tuyệt đối) thì thời hiệu YÊU CẦU TÒA ÁN tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế”. Với cách hành văn và dùng từ của Văn bản luật như vậy, buộc phải hiểu rằng không thể có chuyện mặc nhiên vô hiệu, mà phải có yêu cầu và được Tòa án tuyên bố.
Thứ năm – Quan điểm “Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối mặc nhiên vô hiệu mà không cần thông qua các thủ tục tố tụng tuyên bố vô hiệu của Tòa án” mâu thuẫn với quy định của Luật, thậm chí là trái luật. Chúng ta có thể viện dẫn ra đây một ví dụ: Điều 5.3 Luật công chứng năm 2014 quy định “3. Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu”; Điều 6.2, 6.3 Luật công chứng năm 2024 quy định “Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan, là cơ sở để các bên tham gia giao dịch đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục liên quan đến giao dịch đã được công chứng. 3. Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu”; Với những quy định này, hẳn khi Ai đó cho rằng giao dịch được công chứng, bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật/trái đại đức xã hội, cũng không thể mạo hiểm xem nó “Mặc nhiên vô hiệu mà không cần thông qua các thủ tục tố tụng tuyên bố vô hiệu của Tòa án”!
Nói tóm lại - Rất rõ ràng, “Giao dịch có nội dung/mục đích vi phạm điều cấm của luật/trái đạo đức xã hội là giao dịch vô hiệu tuyệt đối”; Nhưng một giao dịch không mặc nhiên bị xem là “Có nội dung/mục đích vi phạm điều cấm của luật/trái đạo đức xã hội” nhất là trong bối cảnh các bên có tranh chấp, thì cần phải chứng minh và được phán quyết bởi Tòa án. Cho nên, khi chưa có phán quyết của Tòa án, thì “Giao dịch có nội dung/mục đích vi phạm điều cấm của luật/trái đạo đức xã hội” chỉ dừng lại ở sự hoài nghi của Bên đưa ra yêu cầu muốn đưa giao dịch về trạng thái vô hiệu tuyệt đối, Người này có nghĩa vụ phải chứng minh cho yêu cầu đó và được Tòa án chấp nhận. Bằng không, sẽ phải đối diện với chế tài buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc/và phải bồi thường thiệt hại khi bên còn lại Khởi kiện, tất nhiên trong tình huống đó Người này có quyền đưa ra phản tố, yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu và phải chứng minh cho yêu cầu. Suy cho cùng, vẫn phải có phán quyết của Tòa án, mà không thể mặc nhiên.
Viết tại Sài Gòn – Luật sư: Đặng Bá Kỹ!