ZALO VÀ ĐIỀU KIỆN GIA NHẬP “TẤT CẢ HOẶC KHÔNG LÀ GÌ CẢ”: TỰ DO HỢP ĐỒNG VÀ GIỚI HẠN – NHỮNG LÝ LUẬN NỀN TẢNG

Việc Công ty VNG đơn phương đưa ra những điều khoản thay đổi về việc sử dụng dịch vụ Zalo đối với những Người đang sử dụng – Cần phải gọi tên/định danh đúng như vậy về hành vi pháp lý của VNG – Đã khiến cho Cộng đồng Bà con ta đang sử dụng dịch vụ này, có một phen chao đảo; Cùng với đó là không ít bối rối đến các Nhà chuyên môn. Bởi một lý luận được cho là từ phía những Người ủng hộ cách làm này của Zalo, nghe có vẻ không vô lý mà còn thuyết phục, đại loại rằng: “Có nhiều nền tảng mạng xã hội với chức năng giống như Zalo; Nên nếu Người dùng không chấp nhận, thì có thể lựa chọn những dịch vụ khác; Zalo không cưỡng ép ai cả”. Nói thế đúng rồi còn gì – Rất nhiều Người sẽ gật gù cho rằng luận điểm đó là quá chuẩn. Tuy nhiên luật học chưa bao giờ đơn giản như thế!

VNG là Chủ thể cung cấp dịch vụ ứng dụng Zalo – Là một Bên của hợp đồng; Bên còn lại là những Người sử dụng dịch vụ này. Hợp đồng giữa VNG và Người sử dụng Zalo, theo ngôn ngữ của Luật gọi là “Hợp đồng theo mẫu”, còn ngôn ngữ khoa học pháp lý, đôi khi gọi đó là “Hợp đồng gia nhập”, đặc trưng phổ biến của loại hợp đồng này là do một bên soạn sẵn, với những điều khoản đã ấn định, không thể thay đổi; Bên còn lại, chỉ có thể chấp nhận giao kết hợp đồng hoặc không, tức không có quyền thương thảo, thỏa thuận, đàm phán để thay đổi các điều khoản trong hợp đồng. Phổ biến với loại hợp đồng này, có thể kể đến trong các lĩnh vực như bảo hiểm, ngân hàng, điện, nước…

Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng “Hợp đồng gia nhập” – Với đặc trưng chọn hoặc không chọn – Tất cả hoặc không là gì cả - Chỉ được áp dụng vào thời điểm giao kết hợp đồng. Còn một khi hợp đồng đã được xác lập, thì không bên nào được tự ý đơn phương sửa đổi bổ sung hợp đồng, hay nói cách khác, muốn sửa đổi hợp đồng, phải có sự đồng thuận của các bên đã giao kết hoặc Tòa án. Đây là nguyên tắc tôn trọng những gì đã thỏa thuận và tính không thể bị phá vỡ của hợp đồng. Trong vấn đề đang nói tới, việc Zalo cập nhật các điều khoản sử dụng mới, điều này chỉ có giá trị trong tương lai với những tài khoản chuẩn bị sử dụng dịch vụ Zalo, tức có giá trị với những hợp đồng về sau – Đó mới đúng bản chất của “Hợp đồng theo mẫu”, quy định tại Điều 405 Bộ luật dân sự.

Còn với những Người đã sử dụng dịch vụ Zalo từ trước đó, tức đã tồn tại hợp đồng sử dụng dịch vụ Zalo, thì những điều khoản cập nhật mới này, không đương nhiên có giá trị hiệu lực hồi tố - Bởi pháp luật không cho phép hành vi đơn phương sửa đổi hợp đồng. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi khi có sự đồng thuận của các bên, hoặc được sửa đổi bởi Tòa án trong trường hợp hạn hữu là khi thực hiện hợp đồng có sự thay đổi hoàn cảnh cơ bản, dẫn đến sự mất cân bằng một cách nghiêm trọng, theo quy định tại Điều 421, Điều 420 Bộ luật dân sự. Ví dụ cho Bà con dễ hiểu: Ngày 01/01/2021, Công ty bảo hiểm X ký hợp đồng bảo hiểm với Ông A, hợp đồng này theo mẫu mà Công ty X đã ban hành từ trước; Đến ngày 01/01/2022, Công ty X thay đỗi mẫu hợp đồng bảo hiểm; Thì mẫu hợp đồng mới này, chỉ có giá trị với những khách hàng kỳ hợp đồng mới, mà không hề có giá trị thay thế hợp đồng đã ký với Ông A trước đó; Nếu Công ty X muốn hợp đồng đã ký với Ông A, được thay đổi bằng mẫu hợp đồng mới, thì buộc phải có sự đồng ý của Ông A; Bằng không, hợp đồng cũ đã ký vẫn có hiệu lực với các bên. Trường hợp của Zalo, cũng phải vận hành theo cơ chế pháp lý y chang như vậy. Từ đó cho thấy, việc đưa ra yêu cầu với Người đang sử dụng (Đã giao kết hợp đồng) dịch vụ Zalo, phải lựa chọn tất cả hoặc không là gì cả, các điều khoản cập nhật mới, là hành vi pháp lý đơn phương sửa đổi hợp đồng, không được luật cho phép.

Cũng không ít trường hợp, các bên thường dự sẵn một tình huống, đại loại rằng, khi có hoàn cảnh thay đổi hoặc pháp luật có sự thay đổi, khiến cho thỏa thuận của các bên không còn phù hợp, thì một hoặc các bên có quyền đưa ra việc sửa đổi bổ sung các điều khoản cho phù hợp. Ở đây, cần lưu ý rằng, quy định vừa nêu chỉ đưa ra tiền đề để các bên đàm phán sửa đổi hợp đồng, chứ không phải cho phép một bên được quyền đơn phương sửa đổi hợp đồng. Hơn nữa, nếu phân tích sâu, thì quy định vừa nêu, tuy ra vẻ thận trọng nguy hiểm, nhưng lại là sự thiếu hiểu biết pháp lý. Vì rằng, luật hiếm khi có hiệu lực hồi tố, tức là luật thường chỉ áp dụng đối với những hành vi pháp lý phát sinh trong khoảng thời gian mà luật có hiệu lực, việc luật mới được ban hành và có sự thay đổi, không gây ảnh hưởng đối với các hành vi pháp lý đã tồn tại trước đó, trừ khi các bên muốn thỏa thuận lại. Ví dụ thể này cho dễ hiểu: Các bên ký hợp đồng vào năm 2014, nhưng đến năm 2019 mới thực hiện hợp đồng; Năm 2014, Bộ luật dân sự 2005 có hiệu lực thi hành, còn năm 2019, Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành; Tuy nhiên, chỉ cần hợp đồng ký vào năm 2014 có hiệu lực theo Bộ luật dân sự 2005, bất kể nó có phù hợp với Bộ luật dân sự năm 2015 hay không, thì hợp đồng này vẫn có giá trị thi hành, dù năm 2019, Bộ luật dân sự mới đã có hiệu lực thi hành (Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015). Đây là một nguyên tắc pháp lý căn bản, không có gì là cao siêu. Cho nên việc giải thích rằng, phải sửa đổi các hợp đồng đã ký, cho phù hợp với quy định mới của pháp luật, theo một nghĩa bắt buộc, là không đúng quy định của pháp luật.

Hơn thế nữa, giả định rằng, với “Hợp đồng theo mẫu”, trong một số trường hợp hạn hữu nào đấy, một bên có quyền đưa ra các đề nghị có tính chất bắt buộc lựa chọn có hoặc không gia nhập, để sửa đổi các hợp đồng đã giao kết trước đó. Thì đề nghị sửa đổi này, cần phải để cho bên còn lại có thời gian hợp lý cân nhắc mọi vấn đề có liên quan trước khi quyết định, tương tự như vào thời điểm giao kết hợp đồng (Điều 405.1 Bộ luật dân sự). Nghĩa rằng cần phải có trình tự, chứ không thể theo kiểu đánh úp, khiến cho bên còn lại không kịp trở tay: Hoặc là chọn ngay, hoặc là tạm dừng, sau đó là xóa vĩnh viễn, không cho bất kỳ thời gian kịp thu dọn các tài nguyên cần thiết. Hành vi này vi phạm một trong nhưng nguyên tắc phổ quát nhất của giao dịch dân sự - Đó là sự thiện chí. Nếu không thật chú ý vào chi tiết này, Bà con ta sẽ dính bẫy lập luận: Các bên có quyền lựa chọn dùng hoặc không dùng và không ai bắt buộc dùng. Nhưng rõ ràng, cách hành xử kiểu chớp nhoáng, đẩy nhiều người vào tình thế miễn cưỡng chấp nhận, vì không muốn mất nguồn tài nguyên mình đang bị neo giữ.

Trong điều khoản dịch vụ mới, có vẻ như phía Zalo hàm ý sẽ được giải phóng trách nhiệm, khi có vấn đề gì đó bất lợi cho phía Người sử dụng. Nhưng họ quên mất rằng; “Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” (Điều 405.3 Bộ luật dân sự; Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng quy định tương tự). Đây chính là chức năng của pháp luật, tạo dựng và duy trì vị thế cân bằng cho các bên, đồng thời bảo vệ bên yếu thế, khi họ ở một vị thế thấp hơn bên còn lại. Cho nên, cho dù bất cứ bên đưa ra hợp đồng theo mẫu nào, cố tình cài cắm những điều khoản, nhằm giải thoát trách nhiệm cho mình, thì điều khoản đó cũng không có hiệu lực thi hành.

Vụ việc này, có rất nhiều điểm để luận bàn, tuy nhiên không thể viết dài hơn ở đây – Nên Chúng ta, chỉ phân tích một điểm mấu chốt và quan trọng nhất, Tác giả giành cho những Bà con đã kiên nhẫn đọc đến đoạn sau này. Từ khóa bản chất nhất, không phải là ai không dùng thì chọn mạng khác, không phải các mạng khác cũng có điều kiện dịch vụ như vậy, cũng không phải là phù hợp hay không phù hợp với quy định của pháp luật – Vì đó, chỉ là những vấn đề bề ngoài, và phía Zalo đều có thể lập luận được. Cho nên vấn đề có tính phán quyết ở đây phải là: Việc Zalo đưa ra các điều khoản buộc Người dùng phải cung cấp dữ liệu cá nhân để làm gì? Zalo sẽ sử dụng nguồn dữ liệu này để làm gì? Tất nhiên phía Zalo không thể trả lời giản đơn rằng vì đó là chính sách của chúng tôi – Mà thường họ sẽ nói là để bảo vệ Người dùng! Câu trả lời này có vấn đề: (i) Một là, vậy trước đây chưa thu thập dữ liệu, nghĩa là chưa hề bảo vệ Người dùng; (ii) Cơ sở khoa học và bằng chứng pháp lý nào, cho thấy rằng việc thu thập và sử dụng dữ liệu là bảo vệ Người dùng; Và (iii) Trách nhiệm/chế tài là gì, nếu không bảo vệ được Người dùng đã cung cấp dữ liệu cá nhân.

Quay lại với câu hỏi: Việc Zalo đưa ra các điều khoản buộc Người dùng phải cung cấp dữ liệu cá nhân để làm gì? Tất nhiên nếu mục đích không đúng, thì yêu cầu/thỏa thuận này bị vô hiệu, vấn đề sau đó sẽ là bồi thường thiệt hại nếu có. Tuy nhiên, với một lượng Người dùng khổng lồ, trong đó bao gồm cả các dịch vụ công, thì có lẽ sẽ nghiêm trọng hơn, vượt xa những giao dịch dân sự thuần túy, nhất là khi mọi thứ vượt quá tầm kiểm soát. Việc các Cơ quan chức năng chưa can thiệp ngay, là điều có thể hiểu được; Bởi muốn xem xét một hành vi có sai phạm hay không, cần phải có chứng cứ chứng minh, được xem xét thận trọng, tránh bị quy kết là vội vàng, theo sức ép dư luận. Nhưng một điều rõ ràng nhất, Chúng ta có thể thấy qua vụ việc này, đó là dù tự do là một nguyên tắc phổ quát của hợp đồng, nhưng nó không hề vô biên, mà luôn có những giới hạn buộc các bên phải tuân thủ.

Viết tại Sài Gòn – Luật sư: Đặng Bá Kỹ!

 

Bình luận (0)


Bài viết liên quan