TẠI SAO NỀN TẢNG LÝ LUẬN LUẬT HỌC LẠI QUAN TRỌNG ĐẾN THẾ

Các bạn Sinh viên luật được dạy rằng, cấu trúc của quy phạm pháp luật thường bao gồm có ba phần (Giả định – Quy định – Chế tài) – Điều này không sai. Nhưng nó quá lằng nhằng (Rất thừa) để mô tả trong hầu hết cấu trúc các quy phạm pháp luật, và quá giản lược (Rất thiếu) để mô tả cấu trúc số ít các quy phạm pháp luật còn lại. Và chính lý thuyết này, khiến cho việc hiểu và áp dụng pháp luật, một công việc đã vốn vô cùng phức tạp, trở nên càng rối rắm.

Trong khi đó, các Nhà kinh điển về lý luận pháp luật (Chẳng hạn như Hans Kelsen – Và nhiều Tên tuổi khác) cho rằng, cấu trúc của quy phạm pháp luật là một cặp điều kiện “Nếu (A) – Thì (B)”: Nếu một điều kiện pháp lý được thỏa mãn, thì một hậu quả pháp lý sẽ phát sinh. Ví dụ: nếu một người cố ý gây thương tích cho người khác, thì người đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều kiện (A) là hành vi cụ thể, hệ quả (B) là hậu quả pháp lý do pháp luật quy định. Tuy nhiên, không phải mọi quy phạm đều đơn giản như vậy. Có quy phạm chỉ định quyền, quy phạm xác lập nghĩa vụ, quy phạm chế tài, quy phạm thủ tục, quy phạm thừa nhận, quy phạm định nghĩa, v.v. Các loại quy phạm này không thể tồn tại biệt lập mà luôn dựa vào nhau để hình thành một hệ thống có tính hiệu lực nội tại.

Chính vì cấu trúc quy phạm về cơ bản là như thế - Nên theo Giáo sư H.L.A Hart thì quy tắc pháp lý là những chuẩn mực vận hành theo kiểu “Tất cả hoặc không gì cả” (All – or – Nothing) – Nghĩa là nếu điều kiện của quy tắc được thỏa mãn, thì nó phải được áp dụng; Còn nếu không, thì quy tắc đó không có giá trị gì trong trường hợp ấy. Ví dụ: “Không được lái xe quá 60km/h” – nếu một người lái xe ở mức 65km/h, thì quy tắc bị vi phạm; còn nếu chỉ lái 55km/h thì không có vấn đề gì xảy ra. Đây chính là mô tả chuẩn mực nhất về cấu trúc quy phạm cả về lý luận lẫn thực tiễn, mà Chúng ta cần phải luôn luôn ghi nhớ.

Tuy nhiên, cũng chính vì cấu trúc quy pháp pháp luật được thiết kế như vậy – Mà Chủ nghĩa hình thức trong áp dụng pháp luật được khai sinh, tồn tại, phát triển cho đến khi bị phê phán bởi Chủ nghĩa hiện thực pháp lý. Những Người theo Chủ nghĩa hình thức pháp lý – Với Họ luôn là “Nếu (A) – Thì (B)”: Cứ Chủ thể nào thực hiện hành vi đúng như quy phạm mô tả (Tức Nếu (A) đã thỏa mãn) – Thì sẽ áp dụng quy định làm phát sinh hệ quả pháp lý (Thì (B) xảy ra) – Và mọi thứ sẽ kết thúc, không có gì phải lằng nhằng.

Hiểu một cách nôm na, Chủ nghĩa hình thức pháp lý áp dụng pháp luật một cách khô cứng và thường bị xem là máy móc, Họ sẽ áp dụng luật giống như áp dụng công thức toán học, nên đôi khi còn được gọi là Chủ nghĩa công thức. Tất nhiên, Chủ nghĩa này, cũng có những ưu điểm của nó, nếu được áp dụng nhất quán, đó là pháp luật sẽ được áp dụng thống nhất, tránh tùy tiện. Nhưng những nhược điểm của nó thì lại quá lớn, bởi pháp luật không phải là toán học, càng không phải logic học, quy phạm pháp luật không phải lúc nào cũng rõ ràng, mà có những vùng xám, có những mâu thuẫn, khi đó công thức sẽ không thể áp dụng, trước những vụ án khó. Đặc biệt, với những Người không có nền tảng lý luận luật học vững chắc, nếu áp dụng Chủ nghĩa hình thức một cách triệt để, sẽ dẫn đến những sai lầm khó tránh khỏi.

Chẳng hạn, trong lĩnh vực hình sự, các cấu thành tội phạm của các tội danh khác nhau là không giống nhau, mức hình phạt cũng khác nhau – Tuy nhiên, đều giống nhau ở những nền tảng lý luận cơ bản: Tội phạm phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội ở một mức độ nhật định; Việc áp dụng chế tài hình sự ngoài mục đích ngăn ngừa, ngăn chặn hành vi phạm tội, thì còn là để giáo dục, cảm hóa Người thực hiện hành vi (Có thể hiểu là phục hồi nhân phẩm). Vậy thì khi truy cứu trách nhiệm hình sự một Người nào đó, việc xác định các dấu hiệu hành vi có thỏa mãn cấu thành hay không (Tức có đủ Nếu (A) như trên) là điều đương nhiên, nhưng như thế là chưa đủ và không bao giờ đủ, mà còn phải xét đến:

1. Hành vi này có thực sự nguy hiểm cho xã hội hay không? Nếu nguy hiểm thì nguy hiểm ra sao, ở mức độ nào?!

2. Có lựa chọn nào tốt hơn thay việc áp dụng chế tài hình sự, mà vẫn bảo đảm đúng pháp luật, và đạt được mục đích chung của luật hình sự không?! Ví dụ như phạt hành chính, xử lý kỷ luật.

3. Việc áp dụng hình phạt ở mức độ nào là hợp lý, không tạo ra tác dụng ngược trong mục đích chung của luật hình sự?!

Khi giải quyết được những vấn đề trên, cũng là lúc cá biệt hóa được các hành vi bị cho là vi phạm pháp luật. Bởi không có Vụ án nào hoàn toàn giống nhau, mà sẽ khác nhau về mức độ hành vi, mức độ hậu quả, về động cơ, về mục đích… Nên chỉ khi, Người áp dụng pháp luật có một nền tảng lý luận pháp lý thật vững chắc, thì mới có thể có đủ lý do để biện minh về cách xử lý được vấn đề một cách thấu đáo. Tức không chỉ làm hài lòng dư luận, mà Họ có thể và cần phải trình bày trước đồng nghiệp, trước cấp trên, trước cộng đồng luật học rằng, việc xử lý như thế, trong tình huống đó là hợp tình hợp lý. Bằng không – Họ sẽ đối diện với Chủ nghĩa xét lại, và không thể vượt qua được thách thức. Hệ quả, sẽ là quay về điểm xuất phát: “Nếu (A) – Thì (B)”! Bởi chí ít lúc đó, Họ có thể nói, cứ theo đùng hình thức mà làm.

Cũng chính bởi thế - Việc áp dụng pháp luật chỉ là một phần! Sự tồn tại của các quy phạm pháp luật không kém phần quan trọng – Tức là ở khâu bàn hành pháp luật. Khi pháp luật thiếu thống nhất, khó hiểu, mâu thuẫn, thay đổi liên tục, là một thách thức không nhỏ đối với những Người áp dụng pháp luật, nếu không muốn nói là một thách thức quá lớn lao. Việc ban hành các chế định pháp luật, không dựa trên các học thuyết pháp lý, các nền tảng lý luận luật học cơ bản, sẽ khiến luật khó đi vào thực tiễn. Chẳng hạn, “Quyền sử dụng” một nhánh quyền của Chủ sở hữu, Chúng ta quy định bao gồm cả quyền hưởng hoa lợi, lợi tức (Ngoài quyền khai thác công dụng), trong khi các Hệ thống pháp luật khác chỉ quy định đó là quyền khai thác công dụng; Dẫn đến hệ quả “Quyền sử dụng” của Chúng ta chẳng khác “Quyền hưởng dụng” là bao, ngoài một vài khía cạnh về thời hạn. Đây là những vấn đề Chúng ta cần phải nhìn nhận lại, trên con đường tiến đến một nền luật học trưởng thành, phát triển.

Viết tại Sài Gòn – Luật sư: Đặng Bá Kỹ!

 

Bình luận (0)


Bài viết liên quan